Kỹ thuật chăn nuôi thỏ - Nuôi thỏ làm giàu

Chúc bà con chăn nuôi đạt nhiều thành công với con thỏ

test banner

Tin tức

Post Top Ad

Responsive Ads Here

Saturday, 10 September 2016

Kỹ thuật chăn nuôi thỏ

nuôi thỏ sinh sản, chăn nuôi thỏ sinh sản, cách nuôi thỏ sinh sản,  ky thuat nuoi tho sinh san,
cach nuoi thonuoi tho lam giauky thuat nuoi thonuoi tho,


I/ Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA VIỆC CHĂN NUÔI THỎ

    1. Thỏ là một loại gia súc không tranh ăn lương thực với người và gia súc khác, nó có thể tận dụng được các nguồn sản phẩm phụ nông nghiệp, rau, lá, cỏ tự nhiên, sức lao động phụ trong gia đình, đầu tư ít vốn, quay vòng nhanh, phù hợp với điều kiện chăn nuôi gia đình ở nước ta.
    - Chăn nuôi thỏ vốn đầu tư ban đầu thấp, chuồng trại có thể tận dụng các vật liệu sẳn có, rẻ tiền để làm, chi phí mua con giống ban đầu so với các gia súc khác ít hơn rất nhiều và chỉ phải bỏ ra một lần đầu là có thể duy trì chăn nuôi liên tục. Vòng đời sản xuất của thỏ ngắn ( nuôi 3,0 – 3,5 tháng là giết thịt; 5,5 – 6,0 tháng bắt đầu sinh sản ) nên thu hồi vốn nhanh, phù hợp với khả năng của nhiều gia đình.

Nuôi thỏ công nghiệp

    2. Thỏ đẻ khoẻ, phát triển nhanh, sản phẩm thỏ có giá trị trong tiêu dùng và xuất khẩu. Chăn nuôi thỏ có tác dụng cho việc thực hiện mô hình VAC trong kinh tế gia đình. Thỏ đẻ nhanh, một năm trung bình đẻ 6 -7 lứa, mỗi lứa 6 -7 con. Sau 3 tháng nuôi trọng lượng xuất chuồng 2.5 – 3.0 kg, như vậy một thỏ mẹ nặng 4 -5 kg một năm có thể sản xuất ra 90 – 140 kg thịt thỏ, cao hơn nhiều so với các loại gia súc khác.
    - Lông da thỏ sau khi thuộc xong, may thành mũ áo hoặc làm đồ thủ công mỹ nghệ có giá trị lớn trong tiêu dùng và xuất khẩu. Ở Pháp 1 năm có 100 triệu tấm da thỏ trao đổi, giá trị thu từ lông da thỏ tăng thêm 30 -35%.
    - Thỏ là một gia súc rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh nên nó được dùng nhiều làm động vật thí nghiệm, động vật kiểm nghiệm thuốc, chế vaccin trong y học và thú y.
    - Phân thỏ tốt hơn các loại phân gia súc khác, có thể sử dụng để bón cây, nuôi cá và nuôi trùn, lấy trùn nuôi gà, vịt, ngan, cá, lươn….
    Như vậy việc nuôi thỏ ở gia đình vừa tận dụng được phế phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng được sức lao động phụ, vừa đỡ tốn lương thực, lại cho ra một loại sản phẩm đặc biệt ( thịt, lông, da ) có giá trị tiêu dùng, y học, thú y và xuất khẩu. Ngoài ra sản phẩm phụ của nuôi thỏ góp phần tích cực tạo thế cân bằng cho trồng trọt và chăn nuôi theo công thức VAC trong kinh tế gia đình.

II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA THỎ

    1. Đặc điểm chung:

    -Thỏ là loại gia súc nhạy cảm với các tác nhân ngoại cảnh. Khả năng thích ứng với môi trường ở mức 31- 480C, trung bình là 39,50C. Thỏ có ít tuyến mồ hôi dưới da, cơ thể thải nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp. Nếu nhiệt độ không khí tăng nhanh và nóng kéo dài trên 350C thì thỏ thở nhanh để thải nhiệt, khi đó thỏ dễ bị cảm nóng.
    - Thỏ thở rất nhẹ nhàng, không có tiếng động, chỉ thấy thành bụng giao động theo nhịp thở. Nếu thỏ khoẻ, trong môi trường bình thường thì tần số hô hấp 60 - 90 lần/phút. Nhịp đập của tim thỏ rất nhanh và yếu, trung bình từ 100 -120 lần/phút.
    - Thân nhiệt, tần số hô hấp, nhịp đập của tim đều liên quan thuận với nhiệt độ không khí môi trường. Ở nước ta nhiệt độ môi trường thích hợp nhất với thỏ là là từ 20 - 28,50C.
    - Cơ quan khứu giác của thỏ rất phát triển, thỏ mẹ có thể phân biệt được con khác đàn mới đưa đến trong vòng một tiếng bằng cách ngửi mùi. Cấu tạo khoang mũi rất phức tạp, có nhiều vách ngăn chi chít, lẫn các rãnh xoang. Bụi bẩn hít vào sẽ động lại ở vách ngăn. Kích thích gây viêm xoang mũi.
    - Thỏ rất thính và tinh: trong đêm tối thỏ vẫn phát hiện được tiếng động xung quanh và vẫn nhìn thấy để ăn uống bình thường.

2. Một số đặc điểm sinh sản nuôi con:

    Tuổi động dục ban đầu của thỏ thường vào lúc 2,5 tháng tuổi tùy giống và nuôi dưỡng. Thông thường sau khi động dục 2 chu kỳ mới phối giống, lúc này hệ thống sinh dục của thỏ cái phát triển hoàn thiện để đảm bảo cho việc chửa đẻ và nuôi con tốt, trọng lượng phải đạt 3 kg trở lên. Sau khi thỏ đẻ 1- 3 ngày lại động dục trở lại, sau đó chu kỳ động dục thường 12 -16 ngày, đôi khi không động dục trở lại hoặc thay đổi chu kỳ thất thường. Khả năng động dục phụ thuộc vào sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ… chỉ khi nào thỏ động dục thì mới chịu đực, sau khi giao phối 9 -10 giờ thì trứng mới rụng, đây là đặc điểm sinh sản khác hẳn với gia súc khác. Trên cơ sở đặc điểm này người ta sử dụng phương pháp phối giống bổ sung, phối lại lần thứ hai sau lần thứ nhất từ 6 - 9 giờ nhằm tăng thêm số lượng trứng được thụ tinh và đẻ nhiều con.
    - Thỏ đẻ: thời gian chửa 28 -30 ngày, nếu cho đẻ dày, thời gian chửa thường dài hơn từ 1-3 ngày. Bản năng tự nhiên của thỏ mẹ trước khi đẻ thường cắp, nhặt cỏ, lá vào ổ và nhổ lông, cào ổ trộn với đồ lót ổ làm thành tổ ấm mềm mại. Thỏ hay đẻ vào ban đêm, gần sáng. Có một số con không biết nhổ lông làm tổ, những con đó thường nuôi vụng. Thỏ đẻ từ 1-11 con, thường từ 6 - 9 con một lứa. Sau khi đẻ, con mẹ ăn hết nhau thai, trong đó có nhiều sinh tố và kích dục tố. Thỏ con sơ sinh chưa có lông, mẹ liếm sạch da toàn thân mình thỏ con và phủ lớp lông kín cả đàn.
    - Thỏ con được một ngày thì mọc những sợi lông tơ, đến 3 ngày tuổi thì có lớp lông dày ngắn 1 mm, 5 ngày tuổi lông dài 5 - 6 mm và đến 20 -25 ngày tuổi bộ lông được phát triển hoàn toàn. Thỏ con mở mắt vào ngày thứ 9 -12 sau khi đẻ, đến ngày 15 -18 thỏ tập ăn và bỏ ổ.
    - Thỏ mẹ vừa có chức năng tiết sữa, vừa có khả năng dưỡng thai, cho nên mẹ đang nuôi con, vừa đẻ được 1-3 ngày cũng có thể phối giống được và chửa đẻ bình thường.
    - Sữa thỏ đậm đặc và có chất lượng tốt hơn sữa bò: lượng đạm, mỡ, khoáng nhiều gấp 3 - 4 lần. Thỏ khỏe, tiết sữa tốt mỗi ngày có thể sản xuất được 200 -280g sữa. Thỏ đẻ lứa dầu có ít sữa hơn các lứa sau. Trong một chu kỳ tiết sữa lượng sữa tăng dần kể từ sau khi đẻ, đến ngày thứ 15 -20 là cao nhất, sau đó giảm dần. Thời điểm cạn sữa phụ thuộc vào khả năng sản xuất sữa của thỏ mẹ và mật độ sinh đẻ: nếu đẻ liên tục ( phối ngay sau khi đẻ 1- 3 ngày) thì cạn sữa vào cuối tuần thứ 4; nếu đẻ bán liên tục ( phối sau đẻ 10 ngày ) thì cạn sữa sau 5 tuần; nếu đẻ thưa ( phối giống sau cai sữa ) thì 6 tuần mới cạn sữa. Còn khả năng sản xuất sữa ( nhiều hay ít ) phụ thuộc vào con giống và chế độ dinh dưỡng trong thời gian nuôi con, kể từ khi có chửa.

III/ MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG BẤT THƯỜNG VỀ SINH SẢN.

    1. Chửa giả:

    - Khi thỏ cái động dục, nếu có những tác nhân kích thích làm thần kinh hưng phấn như: thỏ cái nhảy lẫn nhau, con đực non nhảy mà không xuất tinh đều gây kích thích làm cho trứng rụng và hình thành điều tiết hóc môn ở cơ quan sinh dục cái, cản trở chu kỳ động dục tiếp theo. Như vậy thỏ cái cũng không động dục, không chịu đực, cũng nhổ lông, cào ổ, làm tổ đẻ như thỏ chửa thật. Để đề phòng hiện tượng chửa giả, cần nhốt riêng từng con thỏ hậu bị lúc 3 - 4 tháng tuổi trở lên, thỏ đực giống phải thành thục về tính dục, có khả năng thụ tinh thì mới cho phối giống.

    2. Vô sinh:

        + Thường biểu hiện ở hai dạng như lâu ngày không động dục và phối được nhưng không chửa liên tục. Dạng thứ hai ngoài nguyên nhân do con đực kém còn có một số nguyên nhân khác do con cái như:
    - Do cơ quan sinh dục như buồng trứng, tử cung bị mắc bệnh.
    - Do nguồn thức ăn chất lượng dinh dưõng kém như thiếu sinh tố A, D, E, thiếu chất khoáng, muối ăn…
    - Do ăn quá nhiều tinh bột, giàu năng lượng dẫn đến thỏ béo quá, tích luỹ nhiều ở cơ quan nội tạng và sinh dục, thỏ không động dục hoặc không rụng trứng được.
    - Do nuôi nhốt trong lồng quá chật trội, nhốt nơi ẩm thấp, tối tăm hoặc mùa hè nóng kéo dài, mùa mưa lạnh quá đều làm cho thỏ không động dục.
    + Nếu vô sinh do bệnh tật mà không điều trị được thì nên loại thải, nếu do môi trường dinh dưỡng thì cần khắc phục.

    3.Sảy thai:

    Có thể do một số bệnh nội khoa trong thời gian có thai như bệnh Listennose, tụ cầu trùng, chướng hơi đầy bụng, cảm nóng…Ngoài ra xảy thai còn do tác động cơ học như khám thai không đúng thao tác, thô bạo làm thỏ sợ hãi đột ngột; hoặc do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý như ăn phải chất độc, thiếu chất dinh dưỡng làm thai chết yểu. Những con nào xảy thai nhiều lần cần loại thải.

    4. Ăn con:

    Có một số con đẻ xong ăn con, có khi ăn hết cả đàn con, đó là sự rối loạn sinh lý sinh sản, thiếu nước chứ không phải bệnh lý. Khi thỏ đẻ, nhu cầu nước và khoáng gấp 3 - 4 lần lúc bình thường, đẻ xong mẹ thường liếm con cho khô, ăn nhau thai, nhưng do thiếu nước và chất khoáng nên mẹ ăn luôn cả con. Nếu ta không phát hiện và khắc phục kịp thời thì có thể thỏ mẹ trở thành thói quen ở lứa đẻ sau, lúc đó phải loại thải.

    5. Bới đàn con:

    Sau khi đẻ xong, đôi khi con mẹ lại vào ổ bới phân tán đàn con khắp ổ đẻ, nhiều con bị xây xát da hoặc chấn thương ở đầu, mất chân, cụt tai, đuôi. Nguyên nhân do con mẹ bị ức chế thần kinh, hung dữ, nhảy lồng lộn trong chuồng cào bới ổ đẻ. Nếu con nào lặp lại hai ba lần thì cần loại thải.

IV/ GIỐNG THỎ NGOẠI NHẬP HIỆN CÓ TẠI VIỆT NAM

    1. Thỏ Newzealand White ( Tân Tây Lan trắng )

    - Có nguồn gốc từ Newzealand nuôi phổ biến ở các nước Châu Au và Mỹ; trưởng thành con đực nặng 4,2 – 4,5 kg; con cái nặng 3,3 – 4 kg.
    Thỏ có đặc điểm ngoại hình: Lông dày, màu trắng tuyền, mắt hồng, khối lượng trưởng thành từ 5 -5,5 kg/con. Tuổi động dục lần đầu 4 - 4,5 tháng tuổi và tuổi phối giống lần đầu từ từ 5 - 6 tháng tuổi, khi đó khối lượng phối giống lần đầu đạt 3 -3,2 kg/con
.

    2. Giống thỏ Panon:

    Được nhập vào nước ta vào năm 2000 từ Hungari, giống thỏ này xuất phát từ một dòng của giống Newzealand trắng được chọn lọc nghiêm ngặt về khả năng tăng trọng và khối lượng trưởng thành tạo nên, vì vậy chúng có các đặc điểm giống như giống thỏ Newzealand nhưng tăng trọng cao hơn và khối lượng khi trưởng thành cũng cao hơn, đạt 5,5 - 6,2 kg/con. Giống thỏ này cũng đã được đưa ra chăn nuôi đạt kết quả tốt ở nhiều vùng nước ta.

    3. Giống thỏ California

    Có nguồn gốc ở Mỹ, được tạo thành do lai giữa thỏ Chinchila, thỏ Nga và thỏ Newzealand được nhập vào Việt Nam từ Hungari. Lần thứ nhất vào năm 1978 và lần thứ hai vào năm 2000. Đây là giống thỏ tầm trung cho thịt, khối lượng trung bình 4,5 -5 kg, tỷ lệ xẻ thịt 55-60%; thân ngắn hơn thỏ Newzealand, lông trắng nhưng tai, mũi, 4 chân và đuôi có điểm lông màu đen, màu mùa đông lớp lông màu đen này đậm hơn và nhạt dần vào mùa hè. Khả năng sinh sản tương tự như thỏ Newzealand. Giống này cũng đã được nuôi ở nhiều vùng trong cả nước ta.

VI/ KỸ THUẬT LÀM CHUỒNG TRẠI

    Lồng chuồng nuôi thỏ có thể đặt dưới gốc cây có bóng mát ngoài vườn, đầu nhà có mái che, chống được mưa nắng hoặc có thể tận dụng các gian nhà trống để nuôi thỏ. Dù đặt ở đâu đều phải đảm bảo không khí thông thoáng, sạch sẽ, chống được gió lùa, mát mẻ về mùa khô, ấm áp về mùa mưa, quét dọn vệ sinh và thoát phân dễ dàng. Không nên đặt lồng thỏ trong chuồng heo, chuồng gà, vừa ngột ngạt, hôi thối lại dễ nhiễm độc và lây lan bệnh từ heo, gà sang thỏ.
    - Tùy vào điều kiện chăn nuôi, lồng chuồng nuôi thỏ có thể làm bằng các loại vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền như tre, trúc, gỗ, tận dụng phế liệu sắt thép hoặc trong điều kiện chăn nuôi thâm canh cao có thể hàn chuồng bằng sắt hoặc inox…
    * Những điều kiện cơ bản khi làm chuồng phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sau:
    - Thỏ hoạt động dễ dàng, thoải mái, không ảnh hưởng đến sức khoẻ.
    - Dễ quét dọn vệ sinh, sát trùng, ít tốn công khi cho ăn uống, chăm sóc, bắt thỏ.
    - Thỏ không chui lẫn đàn, ra ngoài, động vật khác đặc biệt là chuột không chui được vào lồng cắn thỏ.
    - Phải bền vững, chắc chắn rẻ tiền. Những phần hay bẩn, hay mòn và hư hỏng như đáy lồng, lưới cỏ, máng ăn, uống… phải dễ tháo ra lắp vào và thay thế được.
    - Kích thước chuồng phải phù hợp với việc bắt thỏ, chăm sóc, vệ sinh và quan sát trạng thái sức khoẻ. Nếu làm lồng quá cao vừa khó chăm sóc, vừa bị gió lùa từ dưới lên bụng thỏ và thỏ không yên tĩnh vì sợ độ cao. Nếu làm ngăn lồng sâu và hẹp thì khó bắt thỏ, không đủ chỗ để gắn lưới cỏ, máng ăn vào lồng phía trước và khó quan sát thỏ khi chúng ăn. Quy cách lồng chuồng phù hợp nhất là ngăn lồng khối hộp chữ nhật đặt ngang, thành lồng cao 40 -50 cm, dài 90 cm, sâu 60 cm. Lồng 1 tầng nên làm nắp mở mặt trên. Có thể làm 2 ngăn lồng liền một khối 4 chân, lồng cao 50 - 60 cm. Mỗi ngăn nên nhốt 5 - 6 con sau cai sữa vỗ béo hoặc 2 con hậu bị giống hoặc 1 con thỏ giống sinh sản.
    Nếu gia đình trật hẹp thì có thể làm lồng 2 tầng, cửa mở phía trước, dưới đáy tầng nên có khay hứng phân.
    + Đáy lồng chuồng: là một trong những chi tiết quan trọng nhất, vì nó tiếp xúc trực tiếp đến thỏ, là điều kiện vệ sinh để tránh ô nhiễm lây lan mầm bệnh và gây bệnh. Đáy lồng phải nhẵn, phẳng, êm, không để đầu đinh, mối buộc hoặc vật liệu làm lồng nhô lên mặt đáy tránh làm sây sát da, loét gan bàn chân. Đáy lồng phải có khe hở, lỗ thoát phân, nước tiểu dễ dàng, ít thấm nước và tháo ra lắp vào được. Ở gia đình, tốt nhất là làm đáy bằng các thanh tre hoặc gỗ cứng vót, bào nhẵn có bản rộng 1,4 – 1,5 cm, kết thành phên có khe hở 1,25 cm. Nếu đáy làm bằng lưới thép mắt cáo, ô vuông phải là loại dày 2,5 cm, lỗ lưới rộng 1,25 x 1,25 cm. Đáy lưới phải có thêm bệ nằm bằng miếng gỗ mỏng nhẹ đặt vào nửa đáy phía trong để thỏ nằm yên tĩnh.
    + Máng thức ăn tinh: có thể làm bằng vật liệu khác nhau như sành sứ, xi măng, gỗ, tôn,…Nếu làm bằng vật liệu nhẹ thì phải làm móc hoặc dây buộc rá vào thành lồng phía trước để thỏ không làm lật đổ được. Kích thước máng ăn phù hợp là khối hộp chữ nhật dài 35 - 40 cm để đủ chỗ cho cả đàn cùng ăn, nhưng chỉ làm hẹp miệng khoảng 10 -12 cm để thỏ không nằm vào máng ăn được, chiều cao của máng là 6 -8 cm, miệng máng nên làm gờ hoặc uống cong vào phía trong để tránh thỏ bới thức ăn ra ngoài.
    + Dụng cụ uống nước: có thể làm bằng sành, sứ hoặc đổ xi măng hình chậu cao 8 –10 cm, miệng rộng 10 –15 cm để thỏ không dẫm chân vào và không lật đổ được. Để giữ vệ sinh được nước uống, có thể làm van nước bằng ống kim loại hoặc thủy tinh dày cắm vào nút chai, nút can dốc ngược, có giá giữ vào thành lồng để thỏ hút liếm được nước. Hoặc làm khay nước có chai nước dốc ngược.
    + Máng thức ăn thô: phải được thiết kế sao cho thỏ tự rút rau lá cỏ dể ăn được, nhưng không cào bới vào đáy lồng hoặc không chui vào dẫm nát, làm bẩn thức ăn. Nên đặt máng thức ăn thô ra ngoài ngăn lồng, gắn vào một bên thành lồng phía trước, so le với vị trí đặt máng thức ăn tinh ở phía trong.
    +Ổ đẻ: phải đảm bảo ấm, kín gió, có bóng tối, mẹ vào cho bú dễ dàng thoải mái và đặc biệt phải chống được chuột vào ăn thỏ con. Nên làm ổ đẻ bằng gỗ mỏng nhẹ hoặc cót ép dày được quét sơn phẳng nhẵn, có khung nẹp chắc chắn dễ quét dọn vệ sinh, sát trùng. Ổ đẻ là khối hộp chữ nhật kích thước dài 45 cm, rộng 30 cm, cao 25 cm. Mặt trên ổ đẻ được đóng kín cố định một nửa, còn nửa đầu kia làm cửa ra vào của thỏ có nắp đậy bằng lưới kim loại hoặc phên tre thưa 1,5 cm mở đóng cơ động dễ dàng. Với ổ đẻ này, thỏ con dưói 15 ngày tuổi không nhảy ra ngoài được, làm giảm tỷ lệ chết do tác động của ngoại cảnh. Có thể dùng rổ bằng mủ dạng đựng khay chén uống nước để làm ổ đẻ cho thỏ.


VII/ KỸ THUẬT CHỌN GIỐNG VÀ QUẢN LÝ ĐÀN GIỐNG

    1. Chọn giống:

    Muốn chăn nuôi thỏ có hiệu quả, trước hết phải chọn con giống tốt từ các cơ sở giống tốt ổn định của tập thể hoặc gia đình. Việc chọn giống phải dựa theo nguyên tắc cơ bản và tiến hành theo các bước sau:
    a-Chọn theo gia đình:
    - Tức là phải chọn đàn con của những con mẹ khác dòng máu với con bố để tránh đồng huyết, đồng thời có phiếu theo dõi được quá trình sản xuất của con mẹ( tối thiểu 1 năm ) đạt được các tính năng quan trọng sau:
    + Tỷ lệ thụ thai: ( đối với con đực xác định là tốt) đạt trên 70%, vào mùa khô tỷ lệ thụ thai thường thấp hơn mùa mưa. Thông thường thỏ phải đẻ được 5 - 6 lứa/năm.
    +Mật độ đàn con: Số con sơ sinh sống sau 15 ngày phải đạt 7 con trở lên và tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa (30 -35 ngày tuổi) phải đạt trên 80%, tức là mỗi lứa phải cai sữa 6 con trở lên mà có thể lực tốt.
    +Tiết sữa: Khả năng tiết sữa của thỏ mẹ được thể hiện vào khối lượng của cả đàn con lúc 21 ngày tuổi. Ta nên chọn giống từ những đàn có khối lượng cá thể lúc 21 ngày tuổi trên 250 g/con và sức sinh trưởng lúc 30 -70 ngày tuổi đạt trên 30 g/con/ngày. Cụ thể đạt 2,7 -3,0 kg lúc 3 tháng tuổi.

    b- Chọn theo cá thể:
    - Những con được chọn theo tiêu chuẩn trên phải có ngoại hình khỏe mạnh, cơ bắp vạm vỡ, nhanh nhẹn, lông bóng mượt, ăn uống bình thường, tổ chức liên kết dưới da chặt chẽ, tứ chi khoẻ mạnh và không khuyết tật. Cơ quan sinh dục phát triển cân đối, hoàn chỉnh.
    - Thỏ đực giống phải là con có đầu to thô hơn, hai má hơi phình ra, hay tai dày, cứng, dựng đứng kép thành hình chữ V, lưng phẳng hơn khum vồng lên về phía hông, hai mông và đùi sau nở, rắn chắc, không bị loét gan bàn chân, hai dịch hoàn to đều, dương vật hiện rõ, thẳng, có niêm mạc màu hồng nhạt, không bị lở loét hoặc có vảy rộp. Thỏ đực có tính hăng nhưng không ác tính. Chọn thỏ cái giống phải là con có lưng phẳng, bốn chân khoẻ vững chắc, mông nở, xương chậu rộng, có 8 -10 vú cân đối.

    2. Kỹ thuật ghép đôi giao phối:

    Ở các cơ sở giống hoặc những nơi nuôi thỏ theo quy mô đàn lớn cần áp dụng kỹ thuật ghép đôi giao phối trong đàn theo phương pháp nhân thuần các giống thỏ.
Gia đình 1
Đực – A x Cái 1
Đực – B x Cái 1 A
Đực – C x Cái 1 AB
Gia đình 2
Cái – 2 x Đực – C
Cái – 2 C x Đực - 1 A
Cái – 1A2C x Đực - D
    - Trong gia đình và cơ sở nuôi thỏ giống sinh sản, cần phải theo dõi kết quả quá trình sản xuất của con giống nhằm phục vụ cho việc theo dõi sinh sản, chăm sóc và nuôi dưỡng đồng thời lấy cơ sở để chọn giống sau này.
    - Mỗi con thỏ giống phải có một phiếu theo dõi riêng, treo ở ngăn lồng hoặc nơi gần đó để quan sát dễ, đồng thời ghi cả vào sổ riêng tổng hợp. Mỗi con phải có số hiệu hoặc ký hiệu riêng bằng cách bấm số tai hoặc ghi đặc điểm ngoại hình.

    4. Loại thải giống:

    Trong quá trình sản xuất, nếu phát sinh một trong các nhược điểm sau đây thì cần loại thải:
    - Các chỉ tiêu sinh sản kém lặp lại 2 -3 lần.
    - Có tính xấu như hung dữ, hay cắn nhau, cắn người, ăn con, bới đàn, thỏ đực bị di tinh….
    - Mắc bệnh tật lâu ngày không khỏi, thể lực gầy yếu.

VII/ CHẾ BIẾN THỨC ĂN CHO THỎ

    -Thức ăn thô xanh: cần rửa sạch bằng nước sạch. Không nên cất dự trữ sẵn thức ăn xanh lâu ngày sẽ bị vàng úa. Những rau lá có hàm lượng nước lớn như bắp cải, khoai lang.. thì nên phơi khô bớt nước đề phòng chướng hơi đầy đầy bụng.
    - Các loại củ quả: nên cắt thành miếng nhỏ như hạt bắp để thỏ con ăn được dễ dàng. Thức ăn thô khô thường được dự trữ cho mùa khô hiếm thức ăn xanh hoặc dùng trong các ngày mưa lớn. Nên cắt các loại cỏ tự nhiên để phơi khô, nên cắt vào lúc sắp ra bông, thân còn bánh tẻ, lúc đó hàm lượng dinh dưỡng cao nhất, tỷ lệ chất xơ chưa cao. Khi phơi phải được nắng, tránh nước mưa thấm dễ bị mốc và mất chất.
    - Thức ăn tinh: các loại hạt như bắp thì nên nghiền thành mảnh nhỏ, các loại hạt nhỏ thì để nguyên cho ăn hoặc ngâm ủ mọc mầm, không nên nghiền thành bột nhỏ vừa khó cho ăn, lãng phí mà cơ thể sử dụng thức ăn đó sẽ kém hơn.
    Ở các gia đình chuyên nuôi thỏ có thể chế biến các loại thức ăn tinh, kết hợp với các phế phụ phẩm và một số thức ăn bổ sung thành loại thức ăn hỗn hợp tinh giàu dinh dưỡng ở dạng bột hoặc có điều kiện thì dập viên, ép thành bánh, kéo sợi thì càng tốt. Loại thức ăn này vừa ổn định giá trị dinh dưỡng vừa đáp ứng được nhu cầu của thỏ.

    4. Phối hợp khẩu phần ăn trong ngày:

    Dựa vào bảng nhu cầu dinh dưỡng của các loại thức ăn, chúng ta có thể tính toán xây dựng được nhiều thực đơn phối hợp cho từng loại thỏ khác nhau.
    Trong thực tiễn ở gia đình, khó có điều kiện tính toán cân đối các loại thức ăn, để giúp cho gia đình có cơ sở phối hợp thức ăn, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho thỏ, chúng tôi xây dựng bảng khẩu phần thức ăn theo khối lượng các nhóm thức ăn cho các loại thỏ như sau:

IX/ KỸ THUẬT NUÔI DƯỠNG VÀ CHĂM SÓC THỎ Ở CÁC GIAI ĐOẠN TUỔI

    1. Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc thỏ cái sinh sản:

    1.1 Một số thao tác kỹ thuật trong chăn nuôi thỏ cái sinh sản

    - Tỷ lệ thỏ đực cái giống ở cơ sở giống: một con đực giống tốt có thể phụ trách phối giống cho 5 - 6 con cái.
    - Phối giống: phải bắt thỏ cái đến lồng thỏ đực xác định, nếu bắt ngược lại thì thỏ đực lạ chỗ khó làm quen với thỏ cái và thỏ cái thường kháng lại thỏ đực. Thỏ đực sản xuất tinh trùng liên tục nhưng mỗi ngày chỉ nên cho nhảy giao phối tối đa hai lần để có khả năng thụ thai chắc chắn.
    - Ở cơ sở giống thương phẩm thì con cái nên phối hai lần liền với hai con đực khác nhau, con đực trước già hơn con đực sau, để tinh trùng thỏ trẻ tăng cường hoạt lực thì cho tinh trùng thỏ già phối trước. Còn ở cơ sở nhân giống thuần chủng thì chỉ được phối lặp lại, lần sau phải cách lần trước 4 – 6 giờ để tăng tỷ lệ thụ thai và thêm số con sơ sinh.
    -Khi giao phối, nếu thỏ đực tốt thì đến gần con cái làm quen, ngửi con cái một lát rồi nhảy. Nếu con cái động dục thì chạy quanh lồng mấy vòng rồi dừng lại nâng mông cho thỏ đực nhảy.
    - Khi giao phối được thì con đực co mình ngã lăn cạnh con cái và kêu lên, lông quanh âm hộ bị thấm ướt tinh dịch. Ngược lại, nếu con cái không chịu đực thì cứ chạy trốn rồi nằm áp mông cụp đuôi xuống đáy lồng, chỉ làm mệt con đực mà thôi.
    - Có một số con cái động dục nhưng do sợ hãi cũng không cho con đực phối, trường hợp đó ta cần kéo con cái ra giữa lồng và luồn tay xuống dưới bụng nhẹ nhàng nâng mông thỏ cái lên cho thỏ đực nhảy.
    - Nếu gia đình có đàn thỏ giống tốt, khoẻ mạnh, nuôi dưỡng đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho chúng thì có thể cho đẻ liên tục, tức là sau khi đẻ 36 - 48 giờ thì cho phối giống ngay. Nếu không chửa ở chu kỳ động dục đầu thì phải phối giống với chu kỳ động dục sau.
    -Khám thai: là biện pháp xác định thỏ chửa chính xác và an toàn. Biện pháp này tốt hơn là cho thỏ cái vào lồng thỏ đực phối thử. Xác định được thỏ chửa để có kế hoạch chuẩn bị cho ổ đẻ vào lồng và biết được nếu thỏ không chửa thì tiếp tục kiểm tra động dục để kịp thời cho phối lại, không cần phải chờ đến kỳ đẻ mới biết, sẽ lỡ mất chu kỳ động dục.
    - Có thể khám thai vào ngày thứ 10 sau khi phối giống bằng cách nắn vuốt thai nhẹ nhàng trong tử cung qua thành bụng qua thành xương chậu, ở gần cột sống. Nếu thỏ chửa thì thấy thai mềm ở dạng hòn cục nhỏ bằng đầu ngón tay cái hoặc ngón chân di chuyển qua lại trong tử cung. Cần chú ý phân biệt thai với những viên cứng ở trực tràng cùng ở vị trí đó.
    - Chuẩn bị cho thỏ đẻ: nếu thỏ có chửa thì đến ngày thứ 28 sau khi phối giống phải đặt ổ đẻ vào lồng. Ổ đẻ phải có đồ lót là cỏ khô, rơm khô hoặc vỏ bào mềm, sạch, không mốc, thỏ sẽ vào ổ đẻ và cào bới đồ lót, cắp thức ăn thô vào ổ, ăn cả một phần đồ lót. Trước khi đẻ gần 1 ngày, thỏ vảo ổ nhổ lông bụng để trộn với đồ lót tạo thành tổ ấm mềm rồi đẻ con vào đó. Con nào đẻ mà không biết nhổ lông thì ta phải nhổ tỉa lông ở quanh vú và lấy thêm ở ổ đẻ khác để làm ổ cho đàn con. Sau khi thỏ đẻ xong, phải kiểm tra ổ đẻ, bỏ con sơ sinh chết và phần lót ổ bị ướt bẩn ra ngoài. Nếu đàn con nằm phân tán ở ở phía cửa ra vào thì thu gom vào phía trong.

    1.2 Nuôi dưỡng và chăm sóc thỏ cái sinh sản

    - Mục tiêu nuôi thỏ giống sinh sản là tăng khả năng sinh sản được nhiều và đàn con khoẻ mạnh, có sức phát triển sinh trưởng tốt.
    - Trước khi thỏ đẻ 2 - 3 ngày thì đặt ổ đẻ vào lồng chuồng thỏ mẹ. Trong ổ đẻ phải có đồ lót ổ như: cỏ khô, rơm khô hoặc một ít vải vụn mềm, tất cả đều phải khô ráo và sạch sẽ.
    - Thỏ trở dạ thường đứng ngồi không yên, cắp rác, tự nhổ lông bụng cho vào ổ đẻ thì người nuôi phải bắt thỏ mẹ lên nhổ phần lông ở hai bên hàng vú hoặc lấy bớt ở ổ của con khác sang để đảm bảo độ ấm cho đàn con khi sinh ra.
    - Khi thỏ đẻ và tiết sữa, phải cho thỏ uống nhiều nước, thường xuyên có nước sạch, mát trong lồng đẻ thỏa mãn nhu cầu nước cho thỏ, tránh được hiện tượng mẹ ăn con và thiếu sữa. Thời gian này bổ sung thêm cho con mẹ uống nước đường hoặc ăn mía để phục hồi sức khoẻ nhanh, tiết nhiều sữa, đàn con phát triển tốt.
    - Nuôi dưỡng thỏ cái nuôi con cần đảm bảo đầy đủ khẩu phần ăn để thỏ mẹ tiết sữa nuôi con vì trong thời gian 18 ngày đầu thỏ con sống phụ thuộc hoàn toàn vào lượng sữa thỏ mẹ tiết ra. Khẩu phần ăn hàng ngày yêu cầu cần đảm bảo 600 – 800 gam cỏ các loại, 200 -300 gam củ quả và 200 -300 gam thức ăn tinh hỗn hợp đảm bảo 16% protein.
    - Yếu tố quan trọng nhất trong chăm sóc thỏ giống là phải đảm bảo môi trường không khí, lồng chuồng, thức ăn, nước uống sạch sẽ vì các mầm bệnh truyền nhiễm thường xâm nhập vào cơ thể qua đường sinh dục, qua tuyến sữa hoặc khi đẻ. Từ cơ thể con mẹ, rất dễ dàng lây truyền bệnh sang đàn con.

    1.3 Nuôi dưỡng chăm sóc thỏ con bú mẹ

    - Thỏ con sơ sinh sau 15 giờ mới bắt đầu bú mẹ. Trong 18 ngày đầu, thỏ con sống và phát triển hoàn toàn bằng sữa mẹ, đây là giai đoạn quyết định đến tỷ lệ nuôi sống của thỏ con. Nếu được bú đầy đủ thì da phẳng và 5 - 8 ngày đầu mới thấy bầu sữa căng phình ra, có màu hồng ở khoang bụng, thỏ nằm yên tĩnh ở trong tổ ấm, chỉ thấy lớp lông phủ lên đàn con động đậy đều. Nếu thỏ con đói sữa thì da nhăn nheo, bụng lép và đàn con động đậy liên tục.
    - Nguyên nhân thỏ con bú mẹ chết chủ yếu là do đói sữa, dẫn đến suy dinh dưỡng, chết dần từ khi mở mắt. Ngoài ra còn bị chết lạnh ở mùa đông do mất nhiệt khi mới đẻ và đôi khi bị viêm ruột ỉa cứt vàng do nhiễm trùng khi bú mẹ. Thỏ con đói sữa có thể do mẹ ít sữa, có khi mẹ có sữa nhưng không cho con bú do viêm tuyến sữa hoặc không quen cho con bú. Do đó từ khi thỏ đẻ, hàng ngày phải kiểm tra đàn con có no không, có mắc bệnh gì không, đồ lót ổ đẻ có khô sạch không, đàn con có bị phân tán không để kịp thời có biện pháp khắc phục. Ví dụ như điều trị bệnh thỏ mẹ, thỏ con, kết hợp với bồi dưỡng và giữ mẹ cho con bú. Mùa mưa lạnh cần để ổ đẻ vào nơi ấm áp, kín gió, có thể phải đốt lò sưởi để thỏ con không bị chết lạnh.
    - Thỏ mẹ cần cho con bú một lần trong ngày đêm là đủ no. Nhiều khi mẹ vào ổ bới đàn con, nằm trong ổ ỉa đái, ăn cả đồ lót ổ, hoặc có khi sợ hãi nhảy vào ổ đẻ dẫm đạp cả đàn con làm chúng không yên tĩnh. Do đó sau khi đẻ một ngày nên đưa ổ đẻ có nắp đậy kín ra khỏi chuồng thỏ mẹ, buổi sáng sớm hàng ngày mới đưa ổ đẻ vào chuồng thỏ mẹ mở nắp ra để mẹ nhảy vào cho con bú. Như vậy đàn con rất chóng no, con mẹ thoải mái trong lồng, cả mẹ và con đều yên tĩnh, không gây ảnh hưởng lẫn nhau, ổ đẻ không bẩn do phân, nước tiểu của con mẹ, đàn con ít bị nhiễm bệnh.
    - Thỏ mẹ có 8 -10 vú nhưng có khi đẻ trên 10 con thì chỉ nên nuôi 7 - 8 con là tốt nhất. Có thể sang bớt một số con của đàn đông con sang đàn ít con cùng lứa tuổi để nuôi " mồ côi". Nếu số con đẻ ra nhiều hơn 8 con thì sau khi cho bú sữa đầu sang bớt con sang đàn khác và nếu đẻ quá ít thì nhận thêm về cho mẹ nuôi. Công việc này chỉ thực hiện được trong 1 -2 ngày và khi san con nên kèm theo một ít đồ lót của ổ đẻ mới lót tay đón thỏ con đến để thỏ mẹ mới không nhận ra mùi lạ thì sẽ không cắn con. Khi nhập đàn phải trộn lẫn đàn với nhau và sau 1 tiếng mới đưa đến cho bú thì mẹ sẽ không phát hiện được con mồ côi. Nếu không san đàn được thì cũng nên loại bỏ bớt những con yếu kém.
    - Hàng ngày phải kiểm tra ổ đẻ và sức khoẻ đàn con, bỏ ra khỏi ổ phần lót bị bẩn, ướt và những con bị chết. Mùa mưa cần bổ sung đồ lót, đảm bảo đàn con luôn có tổ ấm. Khi được 18 -21 ngày tuổi thì bỏ ổ đẻ, để đàn con trong lồng với mẹ, lúc này con đã cứng cáp, đã biết tập ăn thức ăn của mẹ và lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần. Lúc 23 -25 ngày tuổi, cơ thể đã hấp thụ được 50% nhu cầu dinh dưỡng bằng thức ăn của mẹ. Đến ngày thứ 26 thì sữa mẹ chỉ đáp ứng 20 -30% nhu cầu dinh dưỡng, cho nên từ khi thỏ con tập ăn, cần hết sức chú ý việc chọn thức ăn cho thỏ mẹ sao cho đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng để thỏ mẹ tiết sữa nhiều hơn trong những ngày cuối kỳ tiết sữa và đàn thỏ con ăn được thức ăn đó. Trong giai đoạn này, nhiều người vẫn không chú ý đến đàn con và bú sữa được bao nhiêu nên có khi thỏ con bị đói, suy dinh dưỡng gầy yếu rồi chết. Từ khi thỏ con tập ăn phải tính thêm khẩu phần ăn của đàn con cùng với con mẹ và các dụng cụ ăn uống phải được vệ sinh sạch sẽ. Thức ăn thô xanh phải là các loại rau lá cỏ non để thỏ con tập ăn được.

    1.4 Nuôi dưỡng và chăm sóc thỏ hậu bị giống

    - Thỏ hậu bị giống không nên cho ăn nhiều tinh bột như bắp, gạo, …để tránh sự vô sinh tạm thời. Trong giai đoạn hậu bị, mỗi thỏ 1 ngày có thể ăn 450 - 500 gam thức ăn thô xanh các loại, 100 -150 gam củ quả và 50 - 80 gam thức ăn tinh hỗn hợp. Đồng thời, phải nhốt riêng từng con cái, con đực vào ngăn lồng phù hợp, đánh số tai và có các phiếu ghi các số liệu, lý lịch cần thiết để có thể theo dõi cá thể đầy đủ và chặt chẽ. Nhốt chung chúng sẽ cắn nhau và giao phối tự do. Thỏ 90 -100 ngày đã có thể phối giống. Tuy nhiên phải nuôi đủ đến 6 tháng tuổi mới cho phối giống đưa vào sản xuất.

    1.5 Nuôi dưỡng và chăm sóc thỏ đực giống

    - Thỏ đực được chọn làm giống và cho phối giống với thỏ cái lúc 6 tháng tuổi, đến 3 năm tuổi là hết thời gian sử dụng. Thỏ đực giống tốt, ngoài yếu tố giống là yếu tố nuôi dưỡng, cho ăn và chăm sóc…quyết định chất lượng thỏ đực giống, có tác dụng trực tiếp đến kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai và số con thỏ con đẻ ra trong một lứa.
    - Thức ăn cho thỏ đực giống phải đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết như protein, các vittamin A, D, E…, không nên cho thỏ đực ăn quá nhiều các loại thức ăn giàu tinh bột dễ dẫn đến thỏ đực quá béo, hiệu quả phối giống kém. Những ngày phối giống trong khẩu phần ăn cần tăng thêm thức ăn giàu protein, vitamin E như giá đậu, ngô hạt ủ mầm…làm tăng hoạt động của đực giống và tăng sức sống của tinh trùng.
    - Mỗi ngày nên cho thỏ đực giống ăn 500 - 600 gam cỏ lá các loại, 200 - 300 gam củ quả và 100 - 150 gam thức ăn tinh hỗn hợp đảm bảo 15% protein.
    - Cần phát hiện sớm những đực giống tính đực kém, khi phối giống không hăng, khỏe, kết quả thụ thai thấp để tìm nguyên nhân và có biện pháp khắc phục hoặc loại thải kịp thời tránh ảnh hưởng đến kết quả sinh sản của đàn thỏ cái.
    - Lồng chuồng nuôi thỏ đực nên cách xa chuồng nuôi thỏ cái để tránh những kích thích phản xạ có hại cho con đực. Đáy lồng chuồng phải bằng phẳng, không có góc trú ẩn, lọt chân để khi đưa thỏ cái đến phối giống được dễ dàng.

    1.6 Nuôi dưỡng và chăm sóc thỏ cái có chửa

    - Thời gian thỏ mang thai trung bình từ 28 - 32 ngày. Sau khi phối giống được 10 -14 ngày cần khám thai để xác định thỏ mẹ có chửa hay không. Nếu không chửa phải theo dõi, phối giống ngay vào kỳ động dục tiếp theo, nếu bỏ lỡ sẽ bị lãng phí 1 lứa đẻ.
    - Thỏ chửa cần được ăn tăng dần lượng thức ăn trong khẩu phần để cung cấp chất dinh dưỡng cho con mẹ và dưỡng thai tốt. Cần có các loại thức ăn giàu protein và vitanin A, B, C… như các loại hạt, cám gạo, lá dâu, lá sắn dây, lá mít…Lượng thức ăn hàng ngày tương tự như thỏ đực: 500 - 600 gam cỏ lá các loại, 200 - 300 gam củ quả và 100 -150 gam thức ăn tinh hỗn hợp đảm bảo 15% protein.
    - Cần cho thỏ uống nước đầy đủ, nước uống phải sạch sẽ, vệ sinh, không được cho thỏ uống nước ao hồ, kênh, rạch…dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa.
    - Không được cho thỏ ăn những loại thức ăn đã bị ôi mốc hoặc các tiếng động mạnh và lạ làm cho thỏ hoảng sợ dễ bị sẩy thai hoặc teo thai

X/ MỘT SỐ THAO TÁC TRONG CHĂN NUÔI THỎ

    1. Bắt thỏ:

    - Không được cầm tai thỏ nhấc lên vì dễ làm cha các mạch máu, dây chằng, thần kinh bị đứt, làm tụ máu, rũ tai thỏ, không được ôm nắm bụng thỏ để sách lên dễ làm bục dạ dày, đứt ruột, sảy thai, không đựoc nắm hai chân sau lên nâng lên thỏ sẽ giãy dụa mạnh gây sảy thai. Bắt thỏ đúng cách là phải nắm chặt da gáy nhấc lên, còn tay khác tuỳ theo mục đích bắt thỏ mà đặt đúng vị trí. Ví dụ bắt cho người khác kiểm tra hoặc chích bắp thì nắm da vùng xương hông, sát đuôi, đặt thỏ ngửa về phía người kiểm tra, người chích. Nếu tự mình kiểm tra hoặc nhỏ thuốc mũi, cho thỏ uống nước thì tay kia ôm vòng xuống sống lưng, đặt thỏ nằm ngửa trên bàn hoặc nằm trên nắp lồng trong vòng cánh tay để nhỏ thuốc.
    - Phân biệt thỏ đực, cái: Khi chọn giống, việc phân biệt thỏ đực cái từ lúc 20 -30 ngày là cần thiết. Cách xác định như sau: một tay cầm da gáy nhấc thỏ lên, tay kia kẹp đuôi thỏ vào giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa, ngón tay cái ấn nhẹ vào lỗ sinh dục vuốt ngược lên phía bụng. Nếu thấy lỗ sinh dục tròn, hình trụ nổi lên và xa lỗ hậu môn là con đực. Nếu lỗ sinh dục kéo dài thành khe rãnh gần lỗ hậu môn là con cái.

    2. Vận chuyển thỏ:

    Khi vận chuyển thỏ đi xa cần nhẹ nhàng, đảm bảo cho thỏ yên tĩnh, nếu thỏ hoảng sợ sẽ phát bệnh hoặc làm thỏ chết. Nếu vận chuyển đường dài thì thỉnh thoảng nên cho thỏ uống nước. Mỗi ngày cần cho thỏ ăn một lần nhưng đêm hôm trước ngày vận chuyển không nên cho ăn quá no, có thể ủ mầm thóc hoặc bắp bỏ vào lồng cho thỏ ăn, vừa thay thức ăn tinh vừa cung cấp nước cho thỏ để thỏ đỡ khát nước. Khi vận chuyển thỏ đi xa tốt nhất nên nhốt mỗi con một ngăn thùng, nếu vận chuyển gần thì có thể nhốt thỏ vào một túi sách cứng, khi trời nóng thì vận chuyển vào sáng sớm; nếu trời lạnh thì vận chuyển vào chiều tối, nếu cho thỏ vào cốp xe chú ý không đậy kín tránh trời nắng nóng thỏ sẽ chết nhanh.
    + Đo thân nhiệt :nếu có hai người thì một người giữ thỏ ở tư thế nằm sấp trên bàn, hai tay nắm da vùng gáy và mông, người đo nhiệt độ một tay cầm đuôi, một tay cầm nhiệt kế loại nhỏ thấm ướt đầu thủy ngân rồi đặt vào lỗ hậu môn xoay nhẹ vào trực tràng sâu 2 cm và sau một phút là đọc được. Nếu chỉ có một người thì đặt thỏ trên bàn, quay đầu thỏ kẹp vào nách mình, một tay nắm lấy da mông và đuôi, tay kia cầm nhiệt kế đo như trên.
    + Đếm nhịp đập tim mạch: hơi khó xác định và ít có ý nghĩa trong việc chuẩn đoán bệnh lý vì thỏ khi sợ hãi tim thỏ đập nhanh hơn nhiều. Có thể xác định được nhịp tim mạch bằng cách để thỏ nằm yên tĩnh, dùng ống nghe đặt tại điểm 1/3 từ dưới lên của xương sườn thứ 2 - 4 từ bên trái hoặc cũng có thể bắt mạnh động mạch đùi ở phía trong bẹn.
    + Chích thỏ: thông thường chỉ chích bắp ở mặt trong đùi. Một người bắt thỏ, người khác chích cầm chân thỏ sau cho ngón tay trỏ đặt cào đầu gối chân đó, tay thuận cầm ống chích đặt kim vào điểm đặt của ngón tay cái giữ chân thỏ, chỗ đó có cơ bắp dày, không có mạch máu lớn. Cần chú ý khi thỏ đạp, cựa mạnh có thể làm rớt ống chích
    + Cho thỏ uống thuốc: để tiết kiệm thuốc và dùng đúng liều thuốc, cần phải bắt thỏ cho uống thuốc trực tiếp chứ không nên pha thuốc vào nước uống hoặc thức ăn đại trà, thỏ ăn uống không hết ngay, thuốc biến chất, không có tác dụng.
    Cho thỏ uống nước trực tiếp bằng ống chích hoặc ống hút nhỏ, đặt sâu vào miệng qua mép thỏ rồi bơm từ từ vào miệng, thỏ sẽ nuốt dần. Đối với thỏ con theo mẹ, khi bắt nhấc thỏ lên chờ khi thỏ kêu há miệng ra thì nhỏ thuốc vào miệng, nếu nó không kêu thì nhỏ giọt dưới môi rồi nó sẽ uống được, không nên cho trực tiếp ống chích vào miệng dễ làm sây sát niêm mạc miệng.
    +Sát trùng tiêu độc: Ngoài công việc vệ sinh hàng ngày ra, cần định kỳ sát trùng lồng chuồng, máng ăn uống, ổ đẻ…để tiêu diệt các ổ vi trùng và kí sinh trùng ngưng tụ lâu ngày. Lịch sát trùng tiêu độc như sau:
    - Mỗi tuần sát trùng máng ăn, máng uống uống 2 lần.
    - Hai tuần sát trùng lồng chuồng, lưới cỏ một lần.
    - Sau khi bỏ ổ đẻ ra phải dọn sạch, rửa xong phơi khô, trước khi lót ổ đưa vào lồng đẻ thì phải sát trùng.
    - Mỗi quí phải quét dọn mặt bằng, rắc vôi bột hoặc phun thuốc sát trùng, thuốc diệt ruồi muỗi một lần. Trước khi sát trùng cần phải quét dọn sạch sẽ rồi mới xử lý các biện pháp sát trùng như: dùng nước vôi ngâm máng ăn, máng uống, dùng nước vôi 10% hoặc dung dịch than củi, tro bếp 20% đun sôi lọc kỹ để phun và ngâm sát trùng dụng cụ, chuồng nuôi. Cóthể dùng Dipterex 2% phun lồng chuồng nuôi thỏ để có tác dụng diệt ghẻ, ruồi muỗi.
    + Kiểm tra sức khoẻ thỏ: trong quá trình chăn nuôi phải định kỳ quan sát, đánh giá trạng thái sức khoẻ của thỏ để có biện pháp kịp thời. Thỏ khoẻ thì rất linh hoạt, phản ứng nhanh với tiếng động xung quanh, khi ăn thỏ đến ngửi thức ăn và ăn ngay. Da thỏ khoẻ thì nhẵn nhụi, lông bóng mượt và không có vảy rộp hoặc không rụng lông thành từng đám. Mũi và mắt khô, không có dịch nhờn chảy ra, phân ở dạng viên cứng nếu thấy viên mềm, nhẵn, nhỏ kết dính với nhau như chùm nho thường thải vào sáng sớm thì đó là "phân Vitamin" bình thường. Niêm mạc hậu môn, cơ quan sinh dục khô, không có vảy, loét, không dính bết dịch thể khác. Thỏ khoẻ thì thở đều, nhẹ nhàng, không có tiếng động, kêu.
    Khi nắn vuốt da xung quanh mình thì không thấy khối u, thì nắn da nhấc thỏ lên thì thấy liên kết dưới da chặt chẽ, khi buông tay ra thì da thỏ trở lại bình thường.

NHỮNG BỆNH THƯỜNG XẢY RA Ở THỎ

    1. Bệnh ghẻ thỏ:

    - Bệnh ghẻ là một bệnh kí sinh trùng ngoài da rất phổ biến gây tác hại lớn trong chăn nuôi thỏ. Trong môi trường ô nhiễm ghẻ , mất vệ sinh, các loài ghẻ có thể truyền nhiễm và kí sinh trên da thỏ qua các đồ vật, lồng chuồng tiếp xúc với thỏ, kể cả người chăn nuôi, chuột chim, thú…
    - Bệnh ghẻ thể hiện ở hai dạng: ghẻ đầu do loài ghẻ Notoedres kí sinh gây bệnh ở mí mắt, mũi, mép, có khi lan san cả cổ, gáy vai thường lây truyền sang móng chân, gót chân, da vùng hậu môn và cơ quan sinh dục. Dạng ghẻ tai do loài ghẻ Psoroptes ký sinh gây bệnh ở trong lỗ tai, vành tai.
    - Đàn thỏ con theo mẹ và thỏ 1 -2 tháng tuổi có thể đã nhiễm ghẻ nhưng ít biểu hiện ra triệu trứng lâm sàng. Từ hai tháng tuổi trở đi bệnh mới phát triển nhanh, tỷ lệ mắc bệnh ghẻ ở mùa mưa thường cao hơn mùa khô.
    +Biểu hiện lâm sàng: thỏ ngứa, rụng lông và đóng vảy. Thỏ ngứa thì lấy hai chân trước cào vuốt tai vào mồm cắn, lắc đầu, dụi đầu vào thành lồng hoặc đồ vật xung quanh, hai chân trước vẩy vẩy, hai chân sau dậm dật xuống đáy lồng. Ở các điểm ghẻ lúc đầu thấy rụng lông, sau đó thấy các vẩy rộp trắng xám, dầy cộp dần lên và khô cứng lại. Nhiều khi ở dưới vảy ghẻ có mủ do nhiễm trùng gây viêm da. Cơ thể bị nhiễm độc do ghẻ tiết ra, mất máu, thỏ không yên tĩnh, mất ngủ, kém ăn, gầy dần và chết.
    - Thuốc điều trị bệnh ghẻ trước dây thường dùng thuốc sức LAIS nhưng vì phải sức nơi thỏ ghẻ nên rất khó khống chế được hoàn toàn. Từ năm 1998 đến nay thuốc trị bệnh ghẻ đặc hiệu nhất là sử dụng thuốc dạng ống chích Vermectin, sử dung với liều lượng 0,7 ml/3kg thể trọng, thuốc nên có tác dụng nhanh trong vòng một tuần và có hiệu lực trong vòng 6 tháng.
    - Ở cơ sở nuôi thỏ đã có ghẻ thì cứ 2 tuần lại phải kiểm tra từng con ở các điểm hay mắc ghẻ. Nếu thấy con nào bị ghẻ thì phải cách ly điều trị kịp thời và dùng lửa hoặc nước sôi sát trùng toàn bộ lồng chuồng và các dụng cụ chăn nuôi khác.
    - Ghẻ thỏ là một chủng riêng nên không lây sang người, khi điều trị ghẻ thỏ nếu bị gây ngứa là do tác động cơ học chứ không phải ghẻ ký sinh gây bệnh cho người, chỉ cần tắm rửa sạch là hết.

    2. Bệnh cầu trùng ( cocidiosis )

    - Đây là bệnh phổ biến, dễ gây thiệt hại trong chăn nuôi thỏ. Bệnh do đơn bào ký sinh Eimeria gây nên trong đều kiẹn chăn nuôi và vệ sinh kém. Có hai dạng bệnh: cầu trùng gan và cầu trùng ruột, hai dạng này khác nhau về bệnh tích.
    - Từ lúc hai tuần tuổi thỏ con bắt đầu sơ nhiễm kén cầu trùng, kén này thường xuyên ký sinh trong cơ thể thỏ; sau khi cai sữa, thỏ tiếp tục nhiễm cầu trùng trong phân thỏ thải ra. Nếu mật độ nuôi nhốt lớn, ẩm thấp, tối tăm, ngột ngạt, dinh dưỡng kém, thỏ thiếu chất, sức đề kháng của cơ thẻ giảm sút thì cầu trùng phát triển nhanh: vừa phân hủy tế bào đường ruột, gan, vừa tiết độc tố làm thỏ gầy yếu, nhiễm độc và chết, thường thỏ bị cầu trùng chết nhiều vào lúc 2 -3 thàng tuổi. Thỏ 5 - 6 tháng tuổi trở đi ít bị chết do cầu trùng vì cơ thể lúc này đã có sức đề kháng cao, khả năng đồng hóá của tế bào lớn hơn, chống đỡ quá trình gây bệnh của cầu trùng. Triệu trứng lâm sàng của bệnh cầu trùng ruột là xù lông, thỏ kém ăn, đôi khi ỉa chảy, phân lông có màu xanh, nếu kết hợp với vi trùng gây bệnh viêm ruột thì phân chuyển sang màu đỏ do thấm máu. Thân nhiệt cao hơn bình thường, nước mũi, dãi chảy nhiều. Nếu là cầu trùng gan thì ngoài các triệu trứng trên còn thấy viêm mạc mắt, miệng hơi vàng.
    - Bệnh tích cầu trùng ruột, trước hết ta thấy ở túi tiếp giáp ruột non với manh tràng và đầu ruột thừa có nhiều điểm trắng xám to bằng đầu tăm nổi lên, có khi dày đặc trên thành ruột. Do kết hợp với vi trùng đường ruột nên ở ruột thừa, ruột non thường bị viêm, niêm mạc sưng loét đỏ. Nếu cầu trùng gan thì trên mặt gan sưng to, có nhiều điểm chấm và nâu vàng có chất như bã đậu bọc trong tế bào gan làm cho gan cứng lại.
    - Khi thỏ mắc bệnh ở mức độ nặng thì rất khó điều trị, cho nên chủ yếu là phải phòng bệnh thật tốt từ khi còn bú mẹ để ngăn cản sự lây lan mầm bệnh và phát bệnh. Biện pháp phòng bệnh như sau:
    - Đáy lồng chuồng phải có lỗ, rãnh thoát phân dễ dàng…Hàng ngày phải quét dọn đáy lồng, rửa máng ăn uống, không để thức ăn thô trực tiếp xuống đáy lồng.
    - Thức ăn các loại phải sạch sẽ, không bị ôi mốc, biến chất, phải đảm bảo chế độ dinh dưỡng và số lượng thức ăn theo nhu cầu dinh dưỡng, đặc biệt là đủ Vitamin, khoáng, muối…
    - Sau khi cai sữa dùng thuốc Anticoc hoặc các loại Sulfamit như Sulfaquinoxalin, Sulfathiazol, Sulfadimethoxin… trộn với thức ăn tinh với liều 0,1- 0,2 g trên 1 kg thể trọng, ăn trong 3 ngày liền, nghỉ 2 ngày lại cho ăn tiếp 3 ngày nữa hoặc cho ăn liên tục trong năm ngày liền sẽ có tác dụng cản trở sự phát triển của cầu trùng trong cơ thể.
    Nếu trong đàn có một số con chết vì bệnh cầu trùng thì có nghĩa là cả đàn đã nhiễm nặng, cần dùng thuốc như trên với liều gấp đôi và uống điều trị trong 5 ngày liền. Đồng thời bồi bổ thức ăn giàu đạm và sinh tố.

    3. Bệnh hoại huyết thỏ:

    Là bệnh xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới nhưng mới xảy ra ở Việt Nam vào năm 1999. Đây là loại bệnh truyền nhiễm cấp tính do một loại virut gây ra và có tính lây lan rất nhanh và rộng. Trong môi trường nhiễm bệnh, điều kiện vệ sinh, nuôi dưỡng kém, bệnh bùng phát rất nhanh và rộng gây chết thỏ hàng loạt. Bệnh chủ yếu xảy ra ở thỏ lớn từ 1,5 tháng tuổi trở lên.
    +Triệu chứng lâm sàng: Thỏ vẫn ăn uống bình thường, đôi khi thỏ bỏ ăn trong thời gian ngắn rồi chết hàng loạt. Trước khi chết thỏ giãy giụa, quay vòng, máu ộc ra ở mũi; gan sưng to, bở; vành tim, phổi, khí quản xuất huyết.
    + Phòng trị:
    - Việc điều trị không có kết quả, chủ yếu phòng là chính bằng cách: Tiêm phòng định kỳ bằng vaccin VHD bại huyết với liều lượng 1ml/con; phòng thường xuyên 6 - 8 tháng 1 lần.
    - Cùng với việc tiêm phòng phải thường xuyên vệ sinh sát trùng chuồng trại để tránh sự tồn tại và xâm nhập của mầm bệnh.
    - Thực chất của bệnh này là do rối loạn tiêu hoá do chuyển tiếp thức ăn đột ngột; thức ăn, nước uống bị dính tạp chất bẩn, dính nước mưa, nước hồ ao bẩn, uống nước lạnh hoặc thỏ nằm trên đáy lồng cao bị gió lùa vào bụng... Ở lứa tuổi sau khi cai sữa một tuần đến khi được 3 tháng là hay bị mắc bệnh này.
    - Phân thỏ lúc đầu hơi nhão, sau đó lỏng dần, thấm dính bết lông quanh hậu môn. Thỏ kém ăn, lờ đờ, uống nước nhiều, gầy yếu rồi chết.
    - Khi thấy phân nhão cần đình chỉ ngay các loại thức ăn, nước uống hoặc yếu tố khác mất vệ sinh. Đồng thời cho uống ngay nước chiết xuất đặc của cây cỏ mực, búp chè, búp lá ổi, cỏ sữa… có thể cho uống Colinorgen hoặc Sulfaganidin với liều 0,1 g/kg thể trọng, uống trong 3 ngày liền.

    4. Bệnh chướng bụng đầy hơi:

    Bệnh này xảy ra ở những gia đình nuôi thỏ chủ yếu bằng rau lá, củ quả chứa nhiều nước; có khi do thức ăn bị thối, mốc hoặc chuyển tiếp thức ăn quá đột ngột từ thức ăn thô sang thức ăn xanh với lượng lớn. Mùa mưa khi thỏ khát nước mà cho uống nước cùng với thức ăn thô xanh, củ quả cũng có thể gây bệnh.
    - Thỏ bị chướng hơi thể hiện bụng to, phình ra, căng như quả bóng bay, thỏ không yên tĩnh, khó thở và chảy nước miếng, ướt lông quanh hai mép. Nếu không điều trị kịp thời các cơ quan tiêu hoá sẽ căng to hơn chèn ép các cơ quan nội tạng như phổi và sẽ làm thỏ chết ngạt.
    - Khi thấy thỏ chướng hơi cần đình chỉ thức ăn xanh và nước uống, chỉ cho ăn ít lá chát, lá chè, lá ổi, lá sắn dây đồng thời cho uống 1-2 muỗng nhỏ dầu thầu dầu, ép cho thỏ chạy nhảy và hoạt động nhiều.
    - Cần đề phòng bệnh này bằng cách phơi các loại rau lá chứa nhiều nước trước khi cho ăn, phải chuyển tiếp thức ăn dần dần và cho ăn thức ăn sạch có chất lượng tốt, không cho ăn rau xanh chứa nhiều nước ngay sau khi cho uống nước.

    5. Bệnh viêm ruột truyền nhiễm:

    Bệnh này do vi trùng nhiều loại, chủ yếu là E.coli nhiễm trong thức ăn, nước uống, khi bú mẹ. Bệnh xảy ra ở các lứa tuổi của thỏ.
    - Triệu chứng của bệnh là lông xù, không bóng, kém ăn, sốt cao, phân lỏng và thối, đôi khi lẫn dịch nhờn màu trắng, lông quanh hậu môn và vùng bụng bị thấm bết cả dịch thể và phân. Thỏ con 5 -10 ngày tuổi nhiễm vi trùng qua đường sữa mẹ hoặc khi bú mẹ cũng làm viêm ruột.
    - Thể hiện của bệnh là dịch thể, phân lỏng thấm qua hậu môn đến cả vùng bụng nhuộm thành màu vàng, ta gọi là bệnh " thỏ con ỉa cứt vàng ".
    + Bệnh tích: Viêm ruột tất điển hình: niêm mạc ruột non dầy, có lớp dịch màu vàng xám nhạt phủ lên, có nhiều điểm kết hạt màu trắng lấm chấm bằng hạt kê dày đặc nổi lên trên lớp niêm mạc. Trong khoang bụng chứa nhiều dịch thể màu hồng đỏ. Trên bề mặt các chuỗi hạch thận, lách có những đốm haọi tử trắng nổi lên. Ở niêm mạc ruột già nhiều khi cũng thấy các vùng xuất huyết.
    - Dựa vào triệu trứng lâm sàng, cần phát hiện ngay ở giai đoạn đầu dể rđiều trị kịp thời. Dùng Steptomycin pha loãng 1/20 cho uống 2 - 4 lần/ngày, mỗi lần uống 1 - 2 ml, uống 2 -3 ngày liền. Cần kết hợp uống nước chiết xuất các loại cây như cỏ sữa, cỏ mực và uống các sinh tố A, B để tăng khả năng phục hồi sức khoẻ.

6. Bệnh viêm mũi:

    Xoang mũi thỏ có rất nhiều vách ngăn phức tạp, trong đó thường chứa đọng các vi khuẩn tiềm sinh và bụi bặm. Nếu bị tác động của môi trường không khí ngột ngạt, thay đổi thời tiếy đột ngột gió lùa mạnh, ẩm thấp, vận chuyển đường dài thỏ mệt nhọc… thì bệnh viêm mũi phát ra, đôi khi kết hợp với bệnh khác như tụ huyết trùng, tụ cầu trùng…bệnh trở nên nặng và phức tạp hơn.
    - Thỏ bị viêm mũi sẽ hắt hơi, chảy nước mũi, khó thở và thở có tiếng ran, sau đó có dịch mũ chảy ra và sốt. Thỏ thường lấy hai chân trước dụi mũi, nên lông phía trong hai bàn chân trước rối dính bết lại.
    - Khi thỏ mới bị viêm mũi cần phải thay đổi môi trường hợp vệ sinh và nhỏ thuốc như Streptomycin, Kanamycin vào 2 lỗ mũi, mỗi ngày nhỏ 2 lần cho đến khi khỏi. Nếu bị nặng thì cần tiêm thêm Streptomycin lều 0,1 g/kg thể trọng hoặc Kanamycin với liều 0,05 g/kg thể trọng trong 3 ngày liền.
    - Biện pháp phòng bệnh chủ yếu là tạo môi trường phù hợp, vệ sinh, đặc biệt là khi vận chuyển đi xa cần tránh mưa nắng, gió lùa mạnh, lồng vận chuyển phải có vách ngăn, có đồ lót khô, sạch, không nhốt quá chật để thỏ đè lên nhau.

    7. Bệnh tụ huyết trùng:

    - Trong niêm mạc đường khí quản của thỏ thường có vi trùng Pesteurella tiềm sinh. Khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút thì loại vi trùng này có độc lực lớn hơn sẽ gây bệnh ở nhiều dạng khác nhau như: viêm phổi, viêm kết mạc, phế mạc, viêm màng ngoài tim, viêm não dẫn đến thỏ nghiêng đầu.
    - Bệnh lây lan nhanh qua đường hô hấp bằng cách hít phải vi trùng ô nhiễm trong phân, bụi không khí. Tụ huyết trùng heo, gà, cũng có thể lây sang thỏ và tăng cường độc lực cho tụ huyết trùng thỏ gây bệnh.
    - Triệu chứng lâm sàng của bệnh là gầy yếu, kém ăn, sốt cao 41 -420C, khó thở, kết mạc mắt đỏ, chảy nước mũi có lẫn dịch nhờn. Nhiều khi ở dạng cấp tính, có thể làm thỏ chết đột ngột, chết nhiều trong thời gian ngắn mà không có biểu hiện lâm sàng.
    - Thuốc đặc hiệu là Steptomycin với liều lượng 0,1 g/kg thể trọng hoặc dùng Kanamycin tiêm với liều lượng 0,05 g/kg thể trọng, tất cả đều tiêm trong 3 ngày liền.
    - Thỏ rất mẫn cảm với vi trùng Pasteurella nên phải đề phòng bằng cách nuôi dưỡng chăm sóc tốt, bảo quản thỏ trong môi trường hợp vệ sinh, không nên nhốt thỏ trên chuồng gà, chuồng heo, vừa ngột ngạt, vừa có nguy cơ lây lan mầm bệnh từ gà sang thỏ.

    8. Bệnh tụ cầu trùng:

    - Loại vi trùng Staphylococcus có sức đề kháng rất lớn, thường tồn tại trong thiên nhiên ở môi trường bụi bẩn, ẩm thấp, ngột ngạt tối tăm. Vi trùng xâm nhập vào cơ thể qua vết thương, sây sát ngoài da. Từ tụ điểm ngoài da, vi trùng sinh sản nhanh gây viêm cục bộ và tạo thành khối u ở dưới da hoặc vi trùng theo đường máu vào cơ thể qua nội tạng, tạo nên áp xe ở phổi, gan, não, tuyến sữa, tử cung, buồng trứng, phúc mạc, phế mạc… Thỏ con bú sữa mẹ có lẫn độc tố do vi trùng sinh sản ra sẽ bị nhiễm bệnh. Một trong các nguyên nhân sưng núm vú tắc sữa là do các khối u ở tuyến sữa. Thỏ nghiêng đầu có nguyên nhân có khối u ở não. Thỏ cái vô sinh cũng do nguyên nhân khối u ở tử cung, buồng trứng. Khi khối u ở gan bàn chân bị cọ xát trên đáy lồng chuồng tạo thành vết loét, thấm máu, mưmg mủ gọi là bệnh loét gan bàn chân. Các khối u dưới da có thể nắn vuốt được, lúc đầu thấy cứng, sau đó mềm dần và sưng to lên.
    - Tất cả các vết loét ở gan bàn chân, khối u dưới da đều phải điều trị bằng các cắt lông xung quanh, sát trùng bằng thuốc tím hoặc cồn iốt xung quanh vùng đó, khi khối u đã mềm thì dung dao mũi nhọn chích một lỗ, bóp hết dịch mủ như bã đậu ra và sát trùng xung quanh, sau đó nhỏ thuốc kháng sinh như Sunfamit vào trong bọc u vết mổ, cần điều trị 2 -3 ngày liền thì vết thương mới khỏi được.
    - Muốn phòng được bệnh này phải tránh được sây sát, vết thương ngoài da. Nếu trên da có vết sây sát phải sức thuốc sát trùng ngay. Hàng ngày phải kiểm tra núm vú thỏ mẹ xem con có cắn cào không. Phải cách ly những con có khối u sau khi mổ để tránh sự lây lan mầm bệnh sang con khác.

    9. Bệnh viêm tuyến vú, viêm núm vú:

    - Trong điều kiện môi trường mất vệ sinh, thỏ mẹ trong giai đoạn cho con bú hay bị mắc bệnh này. Nguyên nhân chủ yếu là do sữa đọng lại ở tuyến tiết sữa, dần dần bị phân huỷ dẫn đến viêm; cũng có khi bị nhiễm bẩn, nhiễm trùng từ lót ổ qua vết thương ở vú.
    - Một hay nhiều núm vú hay cả tuyến sữa bị viêm thì vùng đỏ sẽ sưng to, nóng, đau và đỏ da. Nếu vắt sữa ra sẽ thấy dịch sữa lẫn máu, mủ nhờn, nhiều khi ápxe hình thành ở trong tuyến sữa. Khi đàn con bị đói sữa thì phải nghĩ ngay thỏ mẹ bị viêm vú. Thỏ mẹ bị viêm vú thường mệt nhọc, ít hoạt động, không chịu cho con bú lẫn kém ăn.
    - Nếu thỏ bị viêm vú thì trước hết phải bắt thỏ con ra khỏi lồng thỏ mẹ, dùng ống nhỏ thuốc mắt đổ dung dịch thuốc tím loãng sát trùng miệng cả đàn con, sau đó đưa đi nuôi mồ côi ở con mẹ nhiều sữa. Dùng kháng sinh như Penicilin tiêm 5.000UI/kg thể trọng/ngày. . Nếu bị áp xe to mềm thì điều trị như dạng bệnh tụ cầu trùng.

    10. Bệnh nấm da:

    - Bệnh nấm da hay xảy ra ở đàn thỏ nuôi nhốt nơi ẩm thấp tối tăm và cho ăn thức ăn thô khô hoặc đồ lót ổ đẻ bị mốc.
    - Bệnh nấm không làm thỏ ngứa, không tạo thành vẩy dày cộp như bệnh ghẻ mà chủ yếu là rụng lông và hơi sần sùi thành từng đám tròn nhỏ, rồi lan rộng dần trên mặt ngoài vành tai, sống mũi, mí mắt, trán. Nếu bệnh kéo dài thì thỏ cũng gầy yếu.
    - Bệnh nấm da thỏ có ý nghĩa về mặt dịch tể học, vì nấm da thỏ lây lan sang người và gây bệnh nấm ở người rất nguy hiểm. Điều trị bệnh nấm tương tự như điều trị bệnh ghẻ.

    11. Bệnh bại liệt:

    - Đây là bệnh không truyền nhiễm, thường xảy ra ở lứa tuổi thỏ vỗ béo và hậu bị giống do thiếu chất khoáng kéo dài. Cũng có khi do hậu quả của bệnh tụ cầu trùng tạo khối u ở não, cột sống chèn ép hoặc viêm dây thần kinh hoạt động làm bại liệt toàn thân hoặc hai chân sau. Ngoài ra có thể do tác động cơ học như rơi ngã, kẹp chân, đánh nhau gây chấn thương ở đốt xương sống, xương chân…làm thỏ bất động.
    - Khi thỏ bị bại liệt thì không có khả năng điều trị và phục hồi được, cần loại thải ngay.

    12. Bệnh cảm nóng:

    - Mùa khô khi nhiệt độ không khí tăng đột ngột trên 300C hoặc nóng ẩm kéo dài trên 350C, độ ẩm cao, nuôi nhốt chật chội, thông thoáng kém thì thân nhiệt thỏ tăng lên 40 - 410C, dễ làm thỏ bị cảm nóng.
    - Biểu hiện của cảm nóng là thỏ nằm bệt bụng xuống đáy lồng, hoặc nằm nghiên người, duỗi chân bất động, thở rất nhanh và nông, mệt nhọc, bỏ ăn, trước khi chết thỏ co giật giãy giụa, có khi thỏ lồng lộn vượt ra khỏi chuồng. Thỏ có chữa gần đến ngày đẻ dễ bị cảm nóng nhất.
    -Cách cấp cứu là: cho thỏ nằm yên tĩnh với tư thế tự nhiên ở trong bóng râm mát, thoáng, lấy khăn thấm ướt nước mát lạnh đặt lên đầu, cho uống nước mát và nước đường.

    13. Bệnh viêm kết mạc mắt:

    - Nguyên nhân của bệnh viêm kết mạc mắt ở dạng không truyền nhiễm là do không khí bụi bặm nhiều, nồng độ amoniac cao, gió lùa mạnh, nắng chiếu trực tiếp hoặc do sây sát vết thương.
    - Viêm mắt không truyền nhiễm có thể ở một bên mắt, có khi cả hai mắt đều chảy nước mắt, kết mạc sưng đỏ. Ban ngày có ánh nắng thì thỏ hay nhắm mắt lại, nếu kéo dài có thể có dịch nhờn lẫn mủ chảy ra, thậm chí gây viêm cả giác mạc hoặc viêm cả tròng mắt.
    Khi phát hiện bệnh, cần vệ sinh môi trường không khí nuôi nhốt, nhỏ mắt bằng thuốc Chloramphenicol hoặc thuốc mỡ Tetrxyline sứt 2 lần/ngày.

No comments:

Post a Comment

Post Bottom Ad

Responsive Ads Here